Chi tiết tin

A+ | A | A-

Một số điểm mới trong quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng

Người đăng: Admin Chiên Đàn Ngày đăng: 8:58 | 23/04/2026 Lượt xem: 94

Ngày 11/4/2026, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV đã ban hành Quy định số 21-QĐ/TW quy định về công tác kiểm tra giám sát và kỷ luật của Đảng (thay thế Quy định số 296-QĐ/TW, ngày 30/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng) và có hiệu lực từ ngày 11/4/2026.

 

Quy định số 21-QĐ/TW gồm 7 chương, 35 điều kế thừa cơ bản nội dung Quy định 296-QĐ/TW năm 2025, có bổ sung, lược bỏ một số nội dung không còn phù hợp, đảm bảo đồng bộ, thống nhất với Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các quy định mới của Trung ương, pháp luật của Nhà nước với các điểm mới nổi bật như: bổ sung nguyên tắc tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban kiểm tra các cấp; phân cấp, tăng thẩm quyền cho Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong việc thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm; bổ sung nguyên tắc, nội dung giải quyết tố cáo phù hợp với tình hình thực tiễn...

Các điểm mới cốt lõi của Quy định 21-QĐ/TW so với Quy định 296-QĐ/TW, cụ thể:

1. Nâng cao nguyên tắc công bằng, minh bạch trong kỷ luật

Khoản 5, Điều 2, Quy định 21-QĐ/TW đã làm rõ hơn các nguyên tắc trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Điểm nổi bật là nhấn mạnh nguyên tắc: “Mọi tổ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát và xử lý kỷ luật của Đảng, không có ngoại lệ”. Trên cơ sở kế thừa Quy định 296-QĐ/TW, Quy định 21-QĐ/TW tiếp tục cụ thể hóa nguyên tắc này, đồng thời bổ sung nội dung quan trọng về việc kết hợp chặt chẽ giữa xử lý kỷ luật với giáo dục, khắc phục khuyết điểm. Theo đó, "Việc xử lý kỷ luật phải gắn với tăng cường giáo dục, quản lý, làm cho tổ chức đảng, đảng viên nhận thức được khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa và làm tốt hơn". Quy định này thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa tính nghiêm minh trong xử lý vi phạm với yêu cầu giáo dục, phòng ngừa, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên; khắc phục tình trạng chỉ chú trọng xử lý mà xem nhẹ công tác phòng ngừa.

Bên cạnh đó, Quy định 21-QĐ/TW còn bổ sung yêu cầu tổ chức đảng, đảng viên không chỉ thường xuyên “tự kiểm tra” mà còn phải “tự giám sát” (Khoản 1, Điều 2), qua đó nâng cao tính chủ động, tự giác trong rèn luyện, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương của Đảng.

2. Bổ sung nội dung lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng (Điều 4)

Một trong những điểm mới là quy định cụ thể trách nhiệm của cấp ủy trong việc "Ban hành quy chế phối hợp giữa ủy ban kiểm tra với các cơ quan công an, quân đội, thanh tra, kiểm toán nhà nước, viện kiểm sát, tòa án nhân dân cùng cấp và các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị khác có liên quan" (Điểm đ, Mục 1.2, Khoản 3, Điều 4). Quy định này góp phần tăng cường sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

3. Bổ sung thẩm quyền cho Ủy ban Kiểm tra (Điều 7)

Đây là thay đổi lớn nhất, tác động trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát: "Được quyền kết nối cơ sở dữ liệu của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, đăng ký tài sản, đất đai, thuế, thanh tra, kiểm toán, truy tố, xét xử, thi hành án và các cơ sở dữ liệu khác để phục vụ cho công tác kiểm tra, giám sát" (Điểm e, Mục 1.3, Khoản 3, Điều 7); Sử dụng các biện pháp ngăn chặn mạnh: "Khi tiến hành công tác kiểm tra, giám sát được sử dụng một số biện pháp: Ghi âm, ghi hình; niêm phong hồ sơ, tài liệu; yêu cầu cơ quan chức năng phong toả tài khoản, kê biên tài sản, tạm hoãn xuất cảnh và các biện pháp khác theo quy định của pháp luật" (Điểm g, Mục 1.3, Khoản 3, Điều 7).

Trong công tác tham mưu giúp cấp ủy và thực hiện nhiệm vụ cấp ủy giao, mở rộng phạm vi kiểm soát quyền lực, bổ sung nhiệm vụ: "Thực hiện kiểm tra, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong: Công tác kiểm tra, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; công tác cán bộ; đầu tư công, quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công; công tác xây dựng pháp luật, thực thi pháp luật"  (Điểm a, Mục 4.6, Khoản 3, Điều 7). Đến nay, Bộ Chính trị đã ban hành 05 Quy định về kiểm soát quyền lực[1]. Nội dung mới bổ sung này nhằm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng “gắn kiểm tra, giám sát với các phương thức kiểm soát quyền lực”, cụ thể hóa Nghị quyết số 05 -NQ/TW ngày 07/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về tập trung đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng “kiểm tra, giám sát phải là công cụ để kiểm soát quyền lực, giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng”; bổ sung nội dung “kiểm tra, giám sát trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ” đề đồng bộ với quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng; bổ sung kiểm tra nội dung “giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” để đồng bộ với yêu cầu tại Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 16/01/2025 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Một nội dung quan trọng khác là: "Trong quá trình kiểm tra, giám sát nếu phát hiện tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự thì báo cáo, xin ý kiến cấp có thẩm quyền và chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan cho cơ quan điều tra để thụ lý, xử lý theo quy định của pháp luật" (Điểm b, Mục 4.6, Khoản 3, Điều 7), đây là sự bổ sung quy định nhằm bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra của Đảng và hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Quy định số 21-QĐ/TW tăng thẩm quyền cho Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong việc thi hành kỷ luật đảng viên: "Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đối với đảng viên, cấp ủy viên cấp trên cơ sở trở xuống; khiển trách, cảnh cáo, cách chức cấp uỷ viên tỉnh uỷ, thành uỷ và đảng uỷ trực thuộc Trung ương (kể cả bí thư, phó bí thư, uỷ viên ban thường vụ đương chức và nghỉ hưu), đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý nhưng không phải là Uỷ viên BCH Trung ương Đảng" (Điểm 2.4, Khoản 2, Điều 10).

4. Cập nhật bối cảnh chuyển đổi số và phương pháp phát hiện vi phạm

Điều 4, Quy định 21-QĐ/TW đã bổ sung nội dung kiểm tra tổ chức đảng trong "Việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chuyển đổi số" (Tiết d, Điểm 2.3.1, Mục 2.3, Khoản 2, Điều 4). Nếu như Quy định 296-QĐ/TW trước đây chủ yếu giới hạn ở các lĩnh vực cải cách hành chính, pháp luật và tư pháp, thì quy định mới đã mở rộng phạm vi sang chuyển đổi số, phù hợp với yêu cầu phát triển và quản trị hiện đại. Đồng thời, Quy định 21-QĐ/TW cũng bổ sung kênh phát hiện vi phạm mới, cho phép phát hiện, xác định dấu hiệu vi phạm thông qua "Phần mềm giám sát và hệ thống cơ sở dữ liệu số" (Tiết e, Điểm 3.2.1, Mục 3.2, Khoản 3, Điều 7). Qua đó, góp phần nâng cao tính chủ động, kịp thời, chính xác trong công tác kiểm tra, giám sát, đồng thời tăng cường tính công khai, minh bạch và hiệu quả trong phát hiện, xử lý vi phạm.

5. Chuẩn hóa và bổ sung các định nghĩa (Điều 3)

Quy định 21-QĐ/TW bổ sung 04 khái niệm hoàn toàn mới để làm cơ sở cho việc xác định tính chất vi phạm, cụ thể: Định nghĩa rõ "Nhiệm vụ chuyên môn được giao" (Khoản 15); Định nghĩa "Nhiệm vụ cấp ủy giao" (Khoản 16); Định nghĩa "Nhiệm vụ cấp trên giao" (Khoản 17); Định nghĩa "Chức vụ trong Đảng" (Khoản 18). Làm rõ chức năng của Cơ quan ủy ban kiểm tra là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của cấp ủy và của cả ủy ban kiểm tra (Khoản 2, Điều 3). Đây là cơ sở quan trọng nhằm nâng cao tính thống nhất trong nhận thức và bảo đảm sự chặt chẽ, chính xác trong quá trình xem xét, xử lý vi phạm.

6. Sửa đổi, bổ sung nguyên tắc thi hành kỷ luật; Hiệu lực quyết định kỷ luật; Đình chỉ sinh hoạt đảng

Bổ sung yêu cầu "Việc xử lý kỷ luật phải gắn với tăng cường giáo dục, quản lý, làm cho tổ chức đảng, đảng viên nhận thức được khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa và làm tốt hơn" (Khoản 5, Điều 2). Đồng thời, quy định thể hiện rõ tính nhân văn khi bổ sung đối tượng tạm thời chưa xem xét kỷ luật là "đảng viên nam giới (trong trường hợp vợ chết hoặc vì lý do khách quan, bất khả kháng) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi" (Khoản 7, Điều 8). Đây là điểm mới quan trọng, góp phần bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa tính nghiêm minh của kỷ luật Đảng với tính nhân đạo, phù hợp với thực tiễn.

Cách tính thời hạn kỷ luật khi bị thay đổi: Bổ sung quy định rõ, "Trường hợp quyết định thay đổi hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo đối với tổ chức đảng, đảng viên (kể cả trường hợp do tổ chức đảng cấp dưới thực hiện không đúng quy định, do thay đổi hình thức kỷ luật hoặc giải quyết khiếu nại về hành chính, đoàn thể) thì thời hạn chấp hành kỷ luật được tính từ ngày quyết định kỷ luật đầu tiên có hiệu lực". Nhưng nếu thay đổi sang hình thức giải tán (với tổ chức) hoặc khai trừ (với cá nhân) thì thời hạn tính từ ngày quyết định thay thế có hiệu lực (Khoản 10, Điều 15).

Về đình chỉ sinh hoạt đảng (Khoản 2, Điều 27): Quy định 21-QĐ/TW đã lược bỏ yếu tố "bị tạm giam" ra khỏi danh sách các trường hợp đương nhiên phải đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đảng viên có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng, chỉ còn giữ lại yếu tố khởi tố, truy tố. Đây là sự điều chỉnh quan trọng, thể hiện cách tiếp cận thận trọng, chặt chẽ hơn trong việc áp dụng biện pháp đình chỉ, tránh việc áp dụng máy móc khi chưa có căn cứ pháp lý đủ rõ ràng.

7. Nội dung về giải quyết khiếu nại, tố cáo được bổ sung theo hướng làm rõ hơn, chặt chẽ hơn

Khoản 2, Điều 18 quy định Thời hạn giải quyết tố cáo: "Chậm nhất 60 ngày đối với cấp tỉnh, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương trở xuống; 90 ngày đối với cấp Trung ương, kể từ ngày kỳ quyết định giải quyết tố cáo đến ngày ban hành thông báo kết luận giải quyết tố cáo (trừ trường hợp bất khả kháng hoặc đề nghị giám định chuyên môn, kỹ thuật liên quan đến nội dung tố cáo)". Đồng thời, Quy định số 21-QĐ/TW cũng đã làm rõ trách nhiệm của cơ quan nhận tố cáo, yêu cầu "phải phân loại, nắm tình hình đơn tố cáo (người tố cáo, đối tượng bị tố cáo, nội dung tố cáo)" (Khoản 1, Điều 18), giải quyết hoặc chuyển đơn tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn quy định, tránh tình trạng trì hoãn, không giải quyết.

Quy định rõ các trường hợp không xem xét giải quyết tố cáo theo hướng cụ thể, chặt chẽ hơn: "trường hợp người tố cáo được mời (2 lần) nhưng không đến làm việc mà không có lý do chính đáng thì tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết tố cáo lập biên bản, không xem xét, giải quyết tố cáo, lưu hồ sơ kết thúc" (Khoản 2, Điều 18); yêu cầu kết luận phải phân định rõ từng mức độ của nội dung tố cáo: "Kết luận giải quyết tố cáo phải nêu rõ đối với từng nội dung tố cáo: Tố cáo sai; tố cáo không có cơ sở, không đủ căn cứ kết luận; tố cáo đúng có khuyết điểm; tố cáo đúng có vi phạm" (Khoản 4, Điều 20).

Phân cấp giải quyết khiếu nại (Khoản 2, Điều 23) quy định rõ ràng theo hướng xác định cụ thể thẩm quyền của từng cấp: "Ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp cơ sở là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo tổ chức đảng, đảng viên do ban thường vụ cấp ủy cơ sở giải quyết" và "Ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo tổ chức đảng, đảng viên do ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp cơ sở giải quyết".

Quy định số 21-QĐ/TW, ngày 11/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương là văn bản có ý nghĩa quan trọng trong việc định hình “hành lang pháp lý” và là “nền móng vận hành” của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng cho nhiệm kỳ mới.

                                                                      Lệ Lài

 

 

[1] (1) Quy định số 114-QĐ/TW, ngày 11/7/2023 về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ; (2) Quy định số 131-QĐ/TW, ngày 27/10/2023 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán; (3) Quy định số 132-QĐ/TW, ngày 27/10/2023 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; (4) Quy định số 178-QĐ/TW, ngày 27/6/2024 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật; (5) Quy định số 189-QĐ/TW, ngày 08/10/2024 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.

Tác giả: Lệ Lài

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

Tài liệu kỳ họp HĐND

Bản đồ hành chính

Danh mục

Thăm dò ý kiến

Bạn cảm thấy website của chúng tôi như thế nào ?

Thống kê truy cập

Tổng số lượt truy cập

0000315566

Hôm nay: 123
Hôm qua: 232
Tháng này: 9445
Tháng trước: 5196